Các sở, ngành, huyện, TP
Liên kết websites
Thống kê truy cập



web stats

Giới thiệu chung

ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN

1. Vị trí địa lý

Lạng Sơn là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc, nằm ở vị trí đường quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 đi qua, là điểm nút của sự giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Tây như Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, phía Đông như tỉnh Quảng Ninh, phía Nam như Bắc Giang, Bắc Ninh, thủ đô Hà Nội và phía Bắc tiếp giáp với Trung Quốc, với 2 cửa khẩu quốc tế, 2 cửa khẩu quốc gia và 7 cặp chợ biên giới. Mặt khác, có đường sắt liên vận quốc tế, là điều kiện rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, khoa học – công nghệ với các tỉnh phía Nam trong cả nước, với Trung Quốc và qua đó sang các nước vùng Trung Á, châu Âu và các nước khác…

2. Đặc điểm địa hình

Địa hình ở Lạng Sơn chủ yếu là đồi, núi thấp, độ cao trung bình là 252 m so với mực nước biển, nơi thấp nhất là 20 m, cao nhất là đỉnh Phia Mè thuộc khối núi Mẫu Sơn 1.541 m. Địa hình được chia thành 3 tiểu vùng, vùng núi phía Bắc (gồm các núi đất xen núi đã chia cắt phức tạp, tạo nên nhiều mái núi có độ dốc trên 350), vùng núi đá vôi (thuộc cánh cung Bắc Sơn – Văn Quan – Chi Lăng - Hữu Lũng có nhiều hang động sườn dốc đứng và nhiều đỉnh cao trên 550 m), vùng đồi, núi thấp phía Nam và Đông Nam bao gồm hệ thống đồi núi thấp xen kẽ các dạng đồi bát úp, độ dốc trung bình 10 – 250

3. Khí hậu

Nền nhiệt không quá cao là nét đặc trưng của khí hậu Lạng Sơn. Mùa đông tương đối dài và khá lạnh, lượng mưa trung bình năm là 1.400 – 1.500 mm, với số ngày mưa là 135 ngày trong năm. Nền địa hình cao trung bình là 251 m, do vậy tuy nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, nhưng khí hậu ở Lạng Sơn có nét đặc thù của khí hậu á nhiệt đới. Độ ẩm cao (trên 82%) và phân bố tương đối đều trong năm. Sự phân bố khí hậu này đã cho phép Lạng Sơn có thể phát triển đa dạng phong phú các loại cây trồng ôn đới, á nhiệt đới, và nhiệt đới. Đặc biệt là các loại cây trồng dài ngày như hồi, trám, quýt, hồng, đào, lê, thông, cà phê, chè, và các cây lấy gỗ…

Điều kiện kinh tế, xã hội

Điều kiện kinh tế, xã hội

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001 - 2005 đạt 10%/năm, giai đoạn 2006 - 2008 là 11,1%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng và tích cực, tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp trong GDP giảm từ 51,04% năm 2000 xuống còn 39,34% năm 2008, ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 12,59% lên 21,39%, ngành dịch vụ tăng từ 36,37% lên 39,27%. GDP bình quân đầu người năm 2008 đạt 10,37 triệu đồng.

Tổng sản lượng lương thực năm 2008 đạt 286,69 nghìn tấn, bình quân đầu người 378kg, cơ bản đảm bảo nhu cầu về lương thực ở khu vực nông thôn.  Độ che phủ rừng đạt 46,3% năm 2008. Có một số chuyên canh cây ăn quả (vải, na, hồng, quýt…), cây công nghiệp, cây đặc sản (hồi, thuốc lá, chè, thông…), cây lấy gỗ (keo, bạch đàn, mỡ…).

Các ngành công nghiệp chủ đạo là khai thác mỏ (than, đá, bô-xit, sắt…), công nghiệp chế biến (, vật liệu xây dựng, cơ khí và hàng tiêu dùng, chế biến nông lâm sản…) sản xuất điện. Nhà máy nhiệt điện Na Dương công suất 100 MW, Nhà máy Xi măng Hồng Phong... hoạt động ổn định;  đang xây dựng Nhà máy Xi măng Đồng Bành công suất 91 vận tấn/năm, nhà máy xi măng lò quay Hồng Phong công suất 350 nghìn tấn/năm và một số nhà máy thuỷ điện nhỏ. Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu trên địa bàn là: điện, xi măng, đá xây dựng, , than đá, quặng sắt, máy bơm nước, bánh kẹo, gốm xứ...   

Năm 2008, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 2 chiều với Trung Quốc qua địa bàn tỉnh đạt 1,5 tỷ USD, có 1.000 doanh nghiệp của cả nước tham gia xuất nhập khẩu qua địa bàn; tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ đạt 6.100 tỷ đồng; có 1,7 triệu lượt người đến tham quan, du lịch, trong đó khách quốc tế 180 nghìn lượt.

Tỉnh đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở vào năm 2006; có 58 trường  học đạt chuẩn quốc gia. Có 170 trạm y tế xã có bác sỹ, 190 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã; 36% thôn, bản, khối phố có nhà văn hoá; có 137 điểm bưu điện văn hoá xã; 55,8% xã, phường, thị trấn có sân tập thể thao.

Với vai trò là điểm đầu của Việt Nam trên tuyến hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng và cửa ngõ nối Trung Quốc với các nước ASEAN, Lạng Sơn đang tập trung khai thác các tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, xây dựng và phát triển Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn thành vùng kinh tế động lực, phát triển đô thị, công nghiệp, thương mại và dịch vụ với mục tiêu sau năm 2010 phát triển thành trục tứ giác kinh tế trọng điểm Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, góp phần nâng cao vị thế không chỉ riêng của Lạng Sơn và mà cả Việt Nam trong tiến trình hội nhập và phát triển./.

Tài nguyên thiên nhiên

TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

1. Tài nguyên đất

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 830.521 ha, có 3 loại đất chính, đất feralit của các miền đồi và núi thấp (dưới 700), chiếm trên 90% diện tích tự nhiên, đất feralit mùn trên núi cao (700 – 1.500 m), đất phù sa (9.530 ha), đất than bùn, đất nông nghiệp, cây đặc sản, cây dược liệu, cây lâm nghiệp.

Diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng là 68.958 ha, chiếm 8,3% diện tích đất tự nhiên trong đó đất trồng lúa nước là 38.876 ha.

2. Tài nguyên rừng

Diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 277.394 ha, chiếm 33,4% diện tích đất tự nhiên, trong đó, rừng tự nhiên 185.456 ha, rừng trồng 91.937 ha. Diện tích đất chưa sử dụng, sông, suối, núi, đá là 467.366 ha, chiếm 43,02% diện tích đất tự nhiên. Như vậy, tiềm năng về đất còn rất lớn cho việc thúc đẩy phát triển sản xuất nông – lâm nghiệp, đặc biệt là phát triển nông nghiệp trong những năm tới.

3. Tài nguyên khoáng sản

Theo số liệu điều tra địa chất cho thấy, tài nguyên khoáng sản trên địa bàn Lạng Sơn không nhiều, trữ lượng các mỏ nhỏ, nhưng lại khá phong phú, đa dạng về chủng loại như than nâu ở Na Dương (Lộc Bình); than bùn ở Bình Gia; phốtphorit ở Hữu Lũng; bôxít ở Văn Lãng, Cao Lộc; vàng ở Tân Văn, Văn Mịch (Bình Gia); vàng sa khoáng ở vùng Bản Trại, Đào Viên (Tràng Định); đá vôi, cát, cuội, sỏi có ở hầu hết các nơi trong tỉnh với trữ lượng lớn và đang được khai thác để sản xuất vật liệu xây dựng, thạch anh ở vùng Mẫu Sơn (Lộc Bình); quặng sắt ở Chi Lăng và một số loại khác như măng gan, đồng, chì, kẽm, thuỷ ngân, thiếc,… chưa được điều tra, đánh giá trữ lượng.

Tiềm năng kinh tế

TIỀM NĂNG KINH TẾ

1. Những lĩnh vực kinh tế lợi thế

Ngoài những điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, văn hoá nhân văn phong phú… Lạng Sơn còn là tỉnh miền núi có hệ thống giao thông thuận lợi, có đường biên giới chung với Trung Quốc dài 253 km; có 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị và cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng), 2 cửa khẩu quốc gia (Chi Ma, Bình Nghi) và 7 cặp chợ biên giới tạo điều kiện cho Lạng Sơn trở thành điểm giao lưu, trung tâm buôn bán thương mại quan trọng của tỉnh trong cả nước với Trung Quốc, sau đó sang các nước Trung Á, châu Âu. Nhất là trong điều kiện hiện nay, khi Nhà nước đang thực hiện chính sách đầu tư phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, thì Lạng Sơn càng có điều kiện để phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt kinh tế thương mại - du lịch - dịch vụ. Khu kinh tế cửa khẩu là một trong những vùng kinh tế trọng điểm, là khu vực phát triển năng động nhất, đóng vai trò động lực thúc đẩy phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội, là trọng tâm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả tỉnh.

Lạng Sơn có lợi thế về phát triển kinh tế thương mại, với điều kiện về khu kinh tế cửa khẩu, hệ thống giao thông thuận lợi, nên việc buôn bán trong những năm qua ở đây rất sôi động, hàng hoá trong tỉnh, các tỉnh bạn trong cả nước qua Lạng Sơn xuất khẩu sang Trung với số lượng, chủng loại lớn, năm sau cao hơn năm trước. Hàng năm có hàng trăm doanh nghiệp trong cả nước tham gia xuất khẩu qua biên giới, thu hút nhiều doanh nghiệp trong nước, nước ngoài, các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh thương mại - dịch vụ - du lịch ở cửa khẩu và trên địa bàn tỉnh. Thương mại Lạng Sơn phát triển nhanh chóng đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao mức sống của nhân dân, tăng thu nhập cho ngân sách địa phương và trung ương. Hàng năm thu thuế hoạt động thương mại chiếm trên 80% tổng thu ngân sách toàn tỉnh. Cùng với buôn bán phát triển, ngành dịch vụ, du lịch, khách sạn, nhà hàng trong những năm qua cũng đã phát triển nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu buôn bán, du lịch của khách trong nước và quốc tế. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 15 khách sạn của Nhà nước và hàng trăm khách sạn, nhà trọ, nhà khách của các cơ quan, tập thể, tư nhân. Các khách sạn, nhà khách được nâng cấp trang thiết bị có máy lạnh, ti vi, điện thoại phục vụ ngày một tốt hơn nhu cầu xã hội.

Hệ thống ngân hàng tập trung ở địa bàn thành phố, các khu kinh tế cửa khẩu hoạt động năng động và hiệu quả, thủ tục tương đối đơn giản, chặt chẽ, thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, hoạt động trao đổi buôn bán hàng hoá và ngoại tệ.

2. Tiềm năng du lịch

Lạng Sơn là một tỉnh có lợi thế lớn về phát triển ngành du lịch, bởi sự kết hợp phong phú, hài hoà giữa vị trí địa lý, thiên nhiên, lịch sử và con người. Lạng Sơn là vùng biên giới, cửa khẩu ở phía Bắc nước ta, lại nằm trên đường giao thông hết sức thuận lợi nối với thủ đô Hà Nội, thường xuyên thu hút khách du lịch tham quan, giao lưu, trao đổi, hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ngoài ra, thiên nhiên đã ban tặng cho Lạng Sơn nhiều hang động, núi rừng tự nhiên và phong cảnh đẹp với khí hậu mùa hè mát mẻ, dễ chịu, được coi là một điểm nghỉ mát, an dưỡng lý tưởng đối với các du khách từ xa đến như động Tam Thanh, động Nhị Thanh, núi nàng Tô Thị, khu du lịch Mẫu Sơn… Lạng Sơn còn là nơi nổi tiếng với nhiều địa danh lịch sử như ải Mục Nam Quan, ải Chi Lăng, Thành nhà Mạc đã bao lần chứng kiến các trận đánh đuổi quân xâm lược trong suốt tiến trình dựng nước và giữ nước, hay với nền văn hoá Bắc Sơn, căn cứ Cách mạng Bắc Sơn. Con người cần cù mến khách cùng với các lễ hội, truyền thống văn hoá làm cho Lạng Sơn luôn là điểm du lịch hấp dẫn đối với khách thập

Cơ sở hạ tầng

CƠ SỞ HẠ TẦNG

Tỉnh Lạng Sơn là điểm đầu của Việt Nam trong tuyến hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng, được Chính ph ưu tiên đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ.

Về giao thông:

- Tuyến quốc l 1A đoạn Hữu Ngh (Lạng Sơn) Hà Nội (170 km)  quy mô 2 n xe, loại đường cấp 1 đang vận hành; Chính phủ đang triển khai đầu tư xây dựng tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hữu Ngh (Lạng Sơn) với quy mô 6 n xe.

- Tuyến quốc l 4B Lạng n - Cảng i Chùa, Quảng Ninh (114 km),

- Tuyến quốc l 1B  Lạng n - Thái Nguyên (160 km),

- Tuyến quốc l 4A Lạng n - Cao Bằng(148 km)

- Tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội - Lạng Sơn – Đồng Đăng sang Trung Quốc đang vận hành có hiệu quả. Dự kiến của Chính phủ nâng cấp, hiện đại hóa tuyến đường sắt này sau năm 2010.

- Các tuyến đường tỉnh lộ, huyện lộ đi đến 100% trung tâm  các .

Về cấp điện:

S dụng nguồn điện lưới quốc gia, hiện có 2 trạm biến áp 110 KV, c trạm biến áp 35/0,4KV, 22/0,4 KV và h thống đường y tải điện đến 224 /226 xã, phường, thị trấn.

- Nhà y nhiệt điện Na Dương công suất 100 MW; trong năm 2010 sđầu tư y chuyền 2 của nhà y Nhiệt điện Na Dương với công suất  100 MW.

- Đang đầu tư 6 d án thu điện nhỏ công suất 30 MW, 01 d án phong điện  công suất 15 MW .

Về cấp nước:

- H thống cung cấp nước ti thành ph Lạng n công suất 10.000 m3/ngày đêm.

- hthống cấp nước tại c th trấn, khu n cư đã đầu tư, đáp ứng được một phần nhu cầu cho sản xuất và sinh hoạt.

Về viễn thông:

Mạng lưới viễn thông k thuật s hiện đại được kết nối bằng p quang, truyền viba tới 11/11 huyện, thành phố, 100% xã, các cửa khẩu; Tỷ lệ sử dụng đạt 12,6 điện thoại c định/100 dân.

Về giáo dục đào tạo, y tế:

 - Có 110 trường, cơ s mầm non, 221 trường tiểu học, 175 trường trung học cơ sở, 44 trường ph thông cơ sở, 23 trường trung học ph thông, 12 trung m giáo dục thường xuyên, 02 trường cao đẳng, 04 trường trung cấp đào tạo nghề, trong đó  Trường trung cấp ngh cơ điện và kthuật nông m Đông Bắc đào tạo trung bình mỗi m 2.700 học sinh và Trường Trung cấp ngh Việt - Đức đào tạo 1.200 học sinh/năm. Tỉnh đang y dựng đ án Trường Đại học Lạng n theo hướng đào tạo tổng hợp đa ngành, với năng lực đào tạo t 1.500 - 1.800 sinh viên/năm.

 - Có 04 bệnh viện tuyến tỉnh, 10 bệnh viện tuyến huyện và 01 trung m y tế tại thành ph và 24 phòng khám đa khoa khu vực, có 226/226 , phường trạm y tế. Tổng s n b y tế 2.398 người, t l c s đạt: 9,5 bác sĩ/vạn dân.

H thống đô thị, cửa khẩu

Toàn tỉnh có 10 huyện và 1 thành phố loại 3, với 212 xã, phường và 14 thị trấn; có 5 huyện biên giới là: Tràng Định, Văn Lãng, Cao Lộc, Lộc Bình, Đình Lập, 5 huyện nội địa là Văn Quan, Bình Gia, Bắc Sơn, Chi Lăng, Hữu Lũng. Thành phố Lạng Sơn là trung tâm chính trị - kinh tế - xã hội của tỉnh.

Thành phố Lạng Sơn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của tỉnh; hiện nay đang tiến hành nâng cấp thành phố Lạng Sơn thành đô thị loại II (diện tích 115 km2, dân số đến năm 2010 đạt khoảng 120 ngàn người), nâng cấp thị trấn Đồng Đăng thành thị xã.

- Có 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị, cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng), 2 cửa khẩu quốc gia và 7 điểm chợ biên giới. 

Bản đồ hành chính

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LẠNG SƠN - GIAI ĐOẠN II

Địa chỉ: Số 1 phố Mai Thế Chuẩn, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn

Điện thoại: (025) 3.814.615; Fax: (025) 3.814.614 ; Email: congthongtindientu@langson.gov.vn

Thiết kế và xây dựng : Công ty cổ phần Công Nghệ Bình Minh www.binhminh.com.vn